|
|
Hỏi: Con
được nghe nói rằng việc linh mục chúc lành cho người hoặc làm phép một vật,
mà ngài không mang Dây các phép, là việc ngài làm với tư cách riêng tư như
là một con người, trong khi việc ngài mang Dây các phép và chúc lành hoặc
làm phép th́ có nhiều quyền lực hơn, v́ việc ấy đi kèm với sức mạnh và sự
chở che của đoàn sủng được ban cho ngài, với tư cách là vị đại diện của Đức
Kitô. Thưa cha, điều này có đúng không? Chúng con có nên xin ngài mang Dây
các phép trước khi chúc lành hoặc làm phép không? Khi trẻ em tiến đến linh
mục để được chúc lành, với hai bàn tay chấp lên ngực, trong thời gian Hiệp
lễ, linh mục đặt bàn tay ngửa lên đầu em, và nói: "Xin Chúa chúc lành cho
con”. Liệu bàn tay ngửa của linh mục là thích hợp không? Đó có phải là sự
chúc lành không? Hay là ngài không muốn ban phúc lành? - E. S., Mississauga,
Ontario, Canada.
Đáp: Một
số sự làm phép phụng vụ, chẳng hạn như làm phép nước thánh, thường đ̣i hỏi
việc linh mục mang Dây các phép, do phải trung thành với nghi thức này.
Trong các trường hợp này, cả y phục riêng và các công thức phụng vụ chính
xác phải được sử dụng, mà không giảm bớt ǵ.
Việc mang Dây các phép cho sự chúc lành hoặc làm phép là một biểu tượng hùng
hồn của tư cách và thừa tác của linh mục, và do đó cần được sử dụng trong
thực hành.
Tuy nhiên, việc sử dụng Dây các phép là không được yêu cầu cho tính hợp lệ
của các á bí tích. Người ta cũng không thể nói rằng việc linh mục làm phép
là "quyền lực hơn", khi ngài mặc trang phục phụng vụ, bởi v́ khả năng của
ngài để chúc phúc hoặc làm phép xuất phát từ sự truyền chức linh mục của
ngài, chứ không từ lễ phục bên ngoài.
Đức Thánh Cha thường ban phép lành Ṭa thánh mà không mang Dây các phép, khi
đọc kinh Truyền tin hàng tuần vào trưa Chúa Nhật. Các linh mục cũng thường
xuyên được kêu gọi để chúc lành cho người hoặc làm phép đồ vật, do sự thôi
thúc của thời điểm, mà không có khả năng mang Dây các phép. Trong tất cả các
trường hợp như thế, hiệu quả của sự làm phép là cũng giống như khi mang lễ
phục, chứ không thua kém hơn.
Về câu hỏi thứ hai, tôi tin rằng cử chỉ của vị linh mục có lẽ xuất phát từ
sự tôn trọng đối với phép Thánh Thể, và với người rước lễ. Bởi v́ ngài chạm
Ḿnh Thánh với các ngón tay, nên có lẽ ngài muốn tránh dùng chúng để chạm
vào đầu trẻ em. Đây có lẽ là quyết định cá nhân của linh mục, chứ không
tương ứng với bất kỳ qui tắc phụng vụ cụ thể nào.
Điều nghi ngờ rằng ngài muốn giữ lại phúc lành là không đúng, v́ lời nói của
ngài là đủ để truyền đạt ư định của ngài, là ban phép lành thật sự.
Ngay cả ở nơi nào mà việc chúc phúc cho người không rước lễ được phê chuẩn
cách đặc biệt (và một số giáo phận không muốn việc này, hoặc cấm nó nữa),
vấn đề cho các cử chỉ thích hợp là vẫn chưa rơ ràng. Về động cơ của sự tôn
trọng đối với Phép Thánh Thể, tôi đề nghị rằng tốt hơn linh mục nên chúc
lành, mà không chạm vào người được chúc lành.
Sau khi tôi đă trả lời như trên, một số độc giả đă hỏi một câu hỏi giống
nhau như sau: "Liệu là thích hợp cho các thừa tác viên ngoại thường cho Rước
lễ, chúc lành cho trẻ em hoặc những người không thể (hoặc chọn không) Rước
lễ chăng?"
Đáp: Có nhiều cách để phân biệt các loại phép lành và á bí tích. Có sự phân
biệt giữa á bí tích cấu thành và á bí tích khẩn cầu.
Hiệu quả của một á bí tích cấu thành là biến người hoặc vật được chúc phúc,
thành một cách như là tách ra khỏi thế gian. Các thí dụ sẽ bao gồm sự chúc
phúc một viện phụ, và làm phép nước thánh. Trong thực tế, tất cả các phước
lành này là dành cho thừa tác viên có chức thánh, và đôi khi là độc quyền
dành riêng cho Giám mục.
Các phép lành khẩn cầu mời gọi Chúa chúc lành và che chở một người hay đồ
vật, mà không thánh hiến họ trong bất kỳ cách nào. Một số trong các phước
lành này được dành cho các vị được truyền chức, chẳng hạn như sự chúc lành
cho cộng đoàn vào cuối buổi cử hành phụng vụ.
Một số phước lành cũng có thể được ban bởi giáo dân, do sự ủy nhiệm hoặc v́
lư do của một thừa tác phụng vụ đặc biệt, nhất là khi một thừa tác viên được
truyền chức vắng mặt hoặc bị cản trở (xem Giới thiệu chung về Sách Các Phép,
số 18). Trong các trường hợp này, giáo dân chỉ sử dụng các công thức phù hợp
được chỉ định cho các thừa tác viên giáo dân.
T́nh h́nh cuối này có lẽ là trường hợp của các thừa tác viên ngoại thường
cho Rước Lễ, khi họ cầu xin Chúa chúc lành trên những người, v́ lư do tốt,
tiến đến nơi Rước lễ, nhưng không Rước lễ.
Cuối cùng, một số phước lành đơn giản có thể được ban, bởi các giáo dân do
sứ mạng của họ, thí dụ, cha mẹ chúc lành cho con cái của họ.
(Nguyễn Trọng Đa/ Zenit.org 15-5-2007, 29-5-2007)